Bạn đang ở đây

Bộ môn Kinh tế xây dựng

 

1. Quá trình hình thành và phát triển

          Từ năm học 1964 – 1965, do đòi hỏi của thực tiễn xây dựng đất nước, Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã quyết định mở ngành học Kinh tế Xây dựng giao thông và khóa đầu tiên được chiêu sinh vào năm 1965 tại Trường Đại học GTVT.

          Bằng quyết định này và bằng kết quả đào tạo của Nhà trường trong những năm sau này, Trường Đại học GTVT đã chính thức góp phần vào việc thay đổi cơ cấu đội ngũ cán bộ KHKT và QLKT trong ngành GTVT. Cùng với các kỹ sư kỹ thuật xây dựng cầu đường và các cán bộ kinh tế - tài chính được đào tạo vào lúc đó ở Trường Đại học GTVT, Trường Đại học Xây dựng và Trường Đại học Kinh – Tài, trong danh mục ngành nghề đào tạo của Trường Đại học GTVT có thêm một ngành mới mang đặc trưng của ngành học hỗn hợp kinh tế - kỹ thuật đó là ngành Kinh tế Xây dựng giao thông.

          Trong 3 khóa đầu tiên (khóa 6, khóa 7, khóa 8) Nhà trường chỉ đào tạo hệ chuyên tu 3 năm 6 tháng cho các đối tượng đã có bằng trung cấp hoặc công tác lâu năm trong ngành.

          Bắt đầu từ năm 1968 lớp Kinh tế xây dựng chính quy dài hạn đầu tiên (khóa 9) được chiêu sinh, đó là lớp Kinh tế xây dựng 9A.

          Liên tục 49 năm đào tạo (từ năm 1965 đến nay), từ lúc chỉ đào tạo bậc đại học với 3 hệ: chính quy (5 năm), chuyên tu (3,5 năm) và tại chức (6 năm) phục vụ kịp thời nhu cầu của ngành GTVT, cho đến nay qui mô đào tạo đã được nâng cao cả về số lượng và chất lượng với đầy đủ các hệ đào tạo: chính quy, liên thông, bằng 2, vừa làm, vừa học. Từ năm 1995, được Nhà trường giao phụ trách đào tạo bậc cao học và đào tạo nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế xây dựng. Từ đó đến nay, Nhà trường đã đào tạo nhiều thế hệ kỹ sư Kinh tế xây dựng, nhiều thạc sỹ và tiến sỹ chuyên ngành kinh tế xây dựng. Thế hệ các cán bộ, các nhà khoa học đã có đóng góp to lớn trong sản xuất, nghiên cứu, đào tạo… nhiều người đã và đang giữ trọng trách trong quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trong quản lý Nhà nước, quản lý đào tạo của ngành ở Trung ương và địa phương.

          Cùng với sự phát triển của Nhà trường, đội ngũ cán bộ, giảng viên của bộ môn ngày một phát triển ở cả 2 cơ sở. Đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy tại bộ môn hiện có 19 người (giảng viên cơ hữu có 16 người), trong đó có: 01 GS.TSKH, 02 PGS.TS, 02 TS, 03 NCS, 08 ThS, 03 giảng viên đang học cao học.

          Trong thời gian tới bộ môn sẽ tập trung vào những nhiệm vụ sau:

          Phát triển và nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên bằng việc khuyến khích đội ngũ cán bộ giảng viên đi học tập các chương trình tiến sĩ ở trong nước và nước ngoài.

          Tiếp tục đổi mới chương trình đào tạo nhằm cung cấp các kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết cho sinh viên khi bước chân vào những công việc khác nhau trong lĩnh vực nghề nghiệp. Cùng với hệ thống tín chỉ, chương trình đào tạo được thiết kế linh hoạt, cho phép nhiều lựa chọn để sinh viên chủ động hơn trong quá trình đào tạo và phát triển bản thân.

          Đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng phát triển các kỹ năng nghề nghiệp ngay trong quá trình đào tạo. Sinh viên được khuyến khích tự nghiên cứu, làm việc theo nhóm, trao đổi ý kiến, thực hiện dự án… để có thể phát huy hiệu quả công việc ngay khi ra trường.

          Đẩy mạnh hơn nữa công tác viết giáo trình, tài liệu tham khảo, các sách chuyên khảo cho các bậc, các hệ đào tạo với mục tiêu cung cấp đầy đủ nguồn tài nguyên nghiên cứu, học tập cho người học có thể tự học, tự nghiên cứu bên cạnh việc học tập tại lớp.

          Tổ chức công tác nghiên cứu khoa học trong giảng viên và sinh viên, thông qua việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp và công bố các bài báo trên các tạp chí khoa học.

          Chủ động tìm kiếm các kênh hợp tác với các doanh nghiệp, tăng cường quan hệ với doanh nghiệp, các cơ quan quản lý trong và ngoài ngành GTVT là nơi trao đổi thông tin tư vấn và sinh viên thực tập.

2. Công tác đào tạo

          Các bậc và hệ đào tạo do bộ môn phụ trách:

          (1) Bậc đại học, cấp bằng kỹ sư ngành Kinh tế xây dựng (với các hệ đào tạo chính qui, liên thông, vừa làm, vừa học, bằng 2): với 02 chuyên ngành:

- Kinh tế - Quản lý khai thác cầu đường;                    Mã số: 52.58.03.01.01

- Kinh tế Xây dựng công trình giao thông;                   Mã số: 52.58.03.01.02

          (2) Bậc đào tạo cao học, cấp bằng thạc sĩ ngành Quản lý xây dựng - chuyên ngành Kinh tế xây dựng (Mã số: 60.58.03.02.01)

          (3) Bậc đào tạo nghiên cứu sinh, cấp bằng tiến sỹ ngành Quản lý xây dựng - chuyên ngành Kinh tế xây dựng (Mã số: 62.58.03.02.01)

          Số lượng sinh viên đào tạo hàng năm trên 400 SV, trên 200 học viên cao học và hiện bộ môn đang quản lý 24 nghiên cứu sinh.

          3. Công tác nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất

          Trong nhiều năm qua, cán bộ giảng viên bộ môn Kinh tế xây dựng đã thực hiện thành công nhiều đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành, địa phương và cấp Trường, điển hình có thể kể đến một số đề tài sau:  Tổ chức nền sản xuất xã hội, đề mục: Tổ chức sản xuất trong GTVT; Các vấn đề về tổ chức và kinh tế trong công nghiệp hóa xây dựng các công trình giao thông; mã số 34.05.07; Xây dựng luận cứ khoa học phát triển và tổ chức mạng lưới GTVT của thủ đô Hà Nội; mã số: KC 10.02; Chiến lược phát triển và các giải pháp hiện đại hóa trong giao thông đô thị ở các thành phố lớn ở Việt Nam; mã số: KHCN 10.02; Nghiên cứu xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả của kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH; mã số: KC.07.28;Nghiên cứu những biện pháp kinh tế kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng các trung tâm công nghiệp giao thông; mã số: NN, CT: 34C.04.02…

4. Khen thưởng

          Với những thành tích đã đạt được tập thể giảng viên bộ môn Kinh tế Xây dựng đã được trao tặng:  Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Nhiều năm đạt Danh hiệu tập thể lao động xuất sắc, tập thể tiên tiến.